Home | Favorite List  
 
  Home Business Lyric Novel Poem Recipe Shopping!
 
 
 
 

 Details:

  You're here » Home : M : Mua Mua In The Wet
Mua Mua In The Wet - Tác Giả : Nevil Shute (Liễu Nga Đoan dịch)
- CHƯƠNG II

Views: 24 - Rating: 0.00 - Votes: 0

 « view previous novel view next novel »

Xơ Finlay bước ra phía hàng hiên, đứng sau tôi, tôi quay lại nói với Xơ là Stevie bệnh. Xơ gật đầu và biết trước chuyện ấy cũng đến thôi. Xơ hỏi:
Bác Liên Chi này, ông ấy bị bệnh ở đâu? Bác làm ơn chỉ dùm chổ đau của ông ấy.
Oâng ta để tay lên bụng và xoa một vùng khá rộng
Oâng ấy đau ở đây.
Tôi hỏi:
Xơ có đoán ra bệnh gì không?
Xơ lắc đầu:
Cũng khó mà đoán cho chính xác – rồi quay sang ông Liên Chi, Xơ hỏi:
Có làm gì cho ông ấy đỡ đau không?
Ngần ngại một lúc ông ấy mới trả lời:
Vải nhúng nước nóng. Tôi đã đắp vải nước nóng trên bụng. Nước rất nóng, Xơ ạ!
Thế chẳng đỡ gì sao?
Chẳng thấy gì, Xơ ạ!
Sao không chở ông ta tới đây luôn?
Oâng Liên trả lời:
Oâng ta không chịu hiểu lại còn làm ngơ trước lời khuyên của tôi. Lại không thể dựng ông ta bỏ lên xe. Tôi chẳng biết làm thế nào nên đến đây cầu cứu.
Xơ suy nghĩ một lúc rồi nói:
Thế nào thì chúng ta cũng đưa ông ấy đến đây, không thể nuôi bệnh ở đấy được.
Oâng ta bệnh nặng lắm – ông Liên nói – Nếu có được băng ca, bỏ băng ca lên xe, chắc được.
Tôi hỏi:
Đường xá thế nào, từ chỗ ông đến đây có trở ngại lắm không?
Được thôi – ông ta trả lời – Nước cách nhà độ một hai dặm đường – ông ta ra dấu khoảng một hai gang tay và nói – sâu thế này này và đường cũng tốt thôi.
Một dặm hay hơn với nước cạn như thế chưa hẳn thuận lợi, nhưng con ngựa già kéo một xe ngựa hai bánh nhẹ nhàng hơn xe có động cơ mà chạy không được.
Xơ Finlay nói:
Được thôi bác Liên ạ. Tôi sẽ về cùng bác. Liệu ta đến nơi có trước trời tối chăng?
Oâng ta gật đầu:
Chúng ta đi ngay thôi , Xơ ạ!
Tôi quay lại hỏi ông ta:
Từ nhà ông đến đây mất bao lâu ông Liên?
Tôi không có đồng hồ – ông ta trả lời – có lẽhai tiếng đồng hồ.
Đã gần ba giờ chiều và bầu trời u ám như thế này, có lẽ trời tối trước sáu giờ. Tôi chưa bao giờ đến nhà của ông Liên Chi nhưng nghe người ta nói cách đây mười dặm. Phải tính trường hợp con ngựa già không thể chạy nhanh được. Tôi quay sang nói với Xơ Finlay:
Chúng ta nên lên đường ngay càng sớm càng tốt. Tôi sẽ đi cùng với Xơ.
Xơ hơi ngần ngại một chút:
Tốt hơn Cha nên ở đây. Con sẽ nhờ Trung sỹ Donovan đi cùng. Con sợ Cha sẽ bị bệnh trở lại.
Cha phải đi thôi – tôi nói – nếu nhỡ ông già qua đời, Cha sẽ có mặt bên ông ta.
Xơ lại nói:
Trước khi con đem ông ta về viện, ông ta chưa chết đâu, con có đem theo một ít thuốc giảm đau. Điều con cần có ai đó giúp con đưa ông ta lên xe và đưa xuống. Cha cứ ở lại đây. Trên đường đến đấy con sẽ đón Trung sỹ Donovan.
Tôi chỉ cần đi một hai ngày thôi nên nói như linh tính:
Cha sẽ nói cho Xơ biết cha phải làm gì. Trong lúc Xơ chuẩn bị, cha sẽ đến báo tin cho Trung sỹ Donovan, như thế anh ta sẽ sẵn sàng khi Xơ và ông Liên Chi đi qua. Ơû Landsborough không có điện thoại.
Nếu cha giúp cho thì tốt quá. Mười lăm phút nữa con sẽ xong.
Tôi vội vã mặc quần dài vào, choàng áo khoát và đi giày và bắt đầu đi xuống con đường dẫn tới nhà người Trung sỹ cảnh sát. Bà Donovan bước ra hàng hiên gặp tôi.
Con chào Cha. Nghe nói Cha bị bệnh mà! Chắc là Cha đã khỏi. Chồng con đã đi Millangarra rồi Cha ạ! Anh cỡi ngựa đi từ sáng sớm.
Khi nào thì anh ấy về?
Anh ấy ở lại ăn trưa và về trước khi trời tối. Có chuyện gì quan trọng không, Cha?
Tôi báo cho chị ấy biết mọi chuyện rồi bảo:
Thế anh Jim Phillips còn đi phép hả chị?
Có lẽ thế, thưa Cha. Con không biết phải đề nghị với Cha như thế nào, hay Cha cứ đem một thằng nhỏ da đen theo, như Dicky chẳng hạn. Hắn đi được đấy!
Tôi lắc đầu:
Chính tôi phải đi thôi. Khi anh Donovan về, chị nhớ nói lại là chúng tôi đi đâu, nghe chị! Nếu chúng tôi không về kịp mười giờ sáng mai, nhờ anh ấy cỡi ngựa tìm chúng tôi theo con đường ấy. Tôi chỉ sợ trời mưa đều như thế này, nước sẽ dâng cao thôi!
Chị ấy nói:
Con cũng nghĩ thế, ông Liên Chi đến được bình an cũng may đấy!
Thật may mắn! Chị nhớ nói lại như vậy khi anh về nhé!
Khi tôi về đến Bệnh viện thì gặp ông Liên Chi và Xơ đang chạy xe về phía tôi. Tôi nói:
Anh Donovan đi vắng rồi! Anh ấy đi Millangarra và tôi có nhắn lại với chị ấy.
Tôi đu lên xe và nói:
Cha đi với Xơ nhé!
Cha đi như thế con chẳng thích chút nào. Phải có ai đó đi thay Cha mới được
Cha đi cũng thế thôi! – tôi trả lời – Nếu cứ mất thời giờ tìm kiếm, Xơ sẽ không đến đấy kịp trongngày đâu.
Xơ giữ im lặng và cũng biết rằng cái nguy hiểm nhất là đi lang thang lụt lội trong rừng Queensland trong đêm tối. Như một sự bắt buộc tuyệt đối là chuyến đi phải được hoàn tất vào ban ngày. Chúng tôi dừng lại ở toà Cha sở một hai phút để tôi lấy vali nhỏ đựng đồ hành lễ và cây đèn bấm rồi đi ngay đến Dorset Downs. Trời vẫn mưa đều.
Một trong những nét đặc trưng của phần đất miền Bắc Queensland là hoàn toàn không có vẻ gì đặc biệt cả. Đó là một miền quê bằng phẳng chẳng có đồi núi nào cả, bao phủ bởi rừng thưa, lâu lâu lại có những dòng sông cắt ngang. Cảnh quang thì nhìn đâu cũng giống nhau thôi và vào thời gian này trong năm, mặt trời cũng có soi lối đôi chút vào giờ ngọ, vì nó ở ngay trên đỉnh đầu. Đây cũng là nơi rất dễ lạc vào rừng, ý niệm phương hướng rất dễ bị lẫn lộn, và khi điều này xãy ra, phương cách an toàn nhất là cắm trại đợi chiều đến, khi mặt trời lặn sẽ chỉ cho ta hướng Tây.
Chiều hôm ấy chẳng có mặt trời nào cả. Chúng tôi lê bước trong mưa, con ngựa già thỉnh thoảng cũng chạy nước kiệu trên những đoạn đường cứng, nhưng phần lớn là đi chậm rãi và kéo lê đôi càng xe trên miền đất sũng ướt. Chạy được nửa giờ thì tôi không còn nhận ra phương hướng nữa, chẳng biết đông hay tây, nam hay bắc. Tuy vậy, ông Liên Chi thuộc đường, thỉnh thoảng ông cũng chỉ cho chúng tôi những cây gãy hoặc những lối đi bị cây rừng che khuất, đó là những dấu chỉ đường quen thuộc của ông ta trên đường mà ông đã quen đi lại.
Dĩ nhiên, tất cả chúng tôi, chưa bao lâu, đã bị ướt mèm, nhưng nhiệt độ đang còn là hai mươi tám độ chưa là vấn đề. Tuy cũng hơi lạnh, nhưng trời chẳng có gió, nên cũng liều. Chúng tôi ngồi một hàng trên ghế băng, dựa vào thành xe, không dám cử động trừ khi bánh xe vấp phải đá hay lắc mạnh trên đường gập ghềnh. Chẳng ai nói chuyện, chỉ thấy vẻ mặt đăm chiêu. Khung cảnh trầm buồn, một màu tái xám và cơn mưa bốc hơi nồng nực. Có lẽ một cảm giác vô tích sự đối với sứ mạng của chúng tôi là làm dịu đi cơn đau của ông già nát rượu, tất cả những điều này xãy ra cùng lúc đã cướp đi chúng tôi cảm giác muốn nói chuyện, hàn huyên. Đối với riêng tôi, mặc dầu đó là trách nhiệm phải đi đến, để an ủi tinh thần, đối với bất cứ người nào sắp chết, tôi đi còn để hiểu rằng sự tự nguyện của tôi đối với Stevie chắc chắn có thể bị ông ta hiểu lầm và tôi không thể không nghĩ đến những căn phòng ấm áp sơn màu xanh của Bệnh viện mà tôi phải rời bỏ, để gặp một chuyện vặt vãnh chẳng ra làm sao cả!
Giờ này, chúng tôi đã gặp những vũng nước đọng trên đường và rồi liên tiếp từ vũng này đến vũng khác, rồi xe chúng tôi đi qua vũng nước sâu cả gang tay, con ngựa già mỗi lần bước đi là làm bắn tung toé nước. Tôi tự trấn an mình bằng cách hỏi ông Liên Chi:
Sáng nay ông đi, ông có thấy nước lên nhiều như thế này không?
Oâng ta trả lời:
Sáng nay đâu có nước như bây giờ.
Oâng nghĩ sao, liệu chúng tôi có đến kịp nhà ông không?
Được thôi. Tới nhà thì được thôi.
Oâng tiếp tục đánh xe đi, dầu lúc này chúng tôi ít khi thấy dấu đường, nhưng rõ ràng ông ấy đi rất đúng hướng vì tuy xe lăn bánh trong nước nhưng vẫn cảm thấy đất cứng ở dưới bánh xe. Chiều xuống dần nên ánh sáng cũng không còn nữa; cũng có thể là mây kéo về càng ngày càng dày đặc. Tôi hỏi ông Liên Chi:
Còn bao xa nữa. Còn bao lâu nữa chúng ta về đến nhà?
Oâng ta nhún vai:
Hai ba dặm gì đó.
Có thể đến nhà trước trời tối không ông?
Oâng ta trả lời:
Được. Chúng ta sẽ đến trước trời tối.
Giờ đây, chúng tôi đến một vùng đất có hơi nhấp nhô, nên có những gò đất khô ráo hiện ra trong vùng nước và chúng tôi lại càng phải đi cẩn trọng hơn, vì chúng tôi đang tiến đến một vùng bị tách rời bởinhững phụ lưu của con sông Dorset. Chúng tôi vượt qua được một hai con lạch, đây là nơi mà ông Liên Chi đã rõ địa thế nên rất cẩn thận và nước ở đây cũng gần ngập nửa bánh xe. Cũng chính lúc này, khi cẩn thận cho xe qua các con lạch ấy, chúng tôi thấy một khung cảnh rất tiêu điều.
Trên mảnh đất khôráo gần xe chúng tôi đi qua có ba bốn con bò cái Hereford thuộc trại chăn nuôi Dorset Downs. Một trong những con bò cái đứng bên bờ nước có một con bê chạy theo bên, mới sinh hai ba ngày. Khi xe chúng tôi chạy ào qua, con bò ngẩng đầu lên nhìn và chậm rải tiến gần kề chúng tôi và gần mép nước. Con bê cũng tiến theo đến gần mép nuớc.
Ngẫu nhiên tôi nhìn chúng, và thấy toàn bộ sự việc xảy ra. Cái mõm dài của con cá sấu lao nhẹ lên khỏi mặt nước, hai hàm răng khép lại, ngậm cái chân trước của con bê. Một sự vũng vẫy và vật lộn trong nước, khi con vật thô bạo dìm con bê xuống sâu. Cuộc vùng vẫy và vật lộn kéo dài trong được một lúc, rồi mọi vật trở lại im lìm. Con bò cái chẳng làm gì được, chỉ đứng nhìn ngơ ngác.
Xơ Finlay nói:
Lẽ ra, chúng ta nên mang theo một khẩu súng trường.
Cha lại không nghĩ ra – tôi nói – chứ muợn một khẩu của bà Donovan cũng được thôi.
Sau đấy chúng tôi lại tiếp tục im lặng, mỗi người đang miên man theo ý nghĩcủa riêng mình. Giờ thì nước đã sâu hơn hai gang tay và ánh sáng hoàn toàn tắt hẳn. Oâng Liên Chi cầm chiếc roi ngựa chỉ về nổng đất khô ráo đàng trước, qua mặt nước cách độ một dặm. Oâng ta nói:
Nhà đấy. Cái nhà trên nổng đất ấy.
Tôi lại hỏi:
Nhà của ông đấy phải không? Thế chúng ta đến đấy chứ?
Oâng ta gật đầu. Vào lúc ấy, xe chúng tôi bị sụm hố. Dĩnhiên, làm sao thấy được đường phía trước. Có lẽ cũng do tôi làm ông Liên Chi bị phân tâm đôi chút, nên đi trật đường. Dù lý do nào đi nữa, có lúc được đi trên đất cứng, có lúc con ngựa già lại lội bì bõm và hai càng xe trong nước làm cho con ngựa muốn tuột ra.
Oâng Liên Chi thả dây cương đứng lên, nhảy qua một bên và đến trước đầu ngựa. Chắc hẳn ông thuộc đường nhưng ông lội một cách khó khăn vì nước đã lên tới bụng. Tôi do dự một chút, rồi sợ mắc cỡ với ông già người Hoa, tôi nhảy xuống, đi bên cạnh con ngựa để khỏi làm nặng càng xe. Tôi không ngờ nước sâu đến thế, và tôi lội về phía đầu con ngựa, trong ý nghĩ cứ tưởng chừng con cá sấu nào đuổi theo mà kinh hồn! Chân tôi đụng đất cùng lúc với chân con ngựa. Oâng Liên Chi và tôi, hai người đứng hai đầu con ngựa, khi nó đang mệt mỏi vật vã để trèo lên cái bờ lạch đãchìm dưới nước và đôi càng xe chìm trong nước lên trên ấy luôn. Xơ Finlay cũng đứng lên, chưa biết nên ra khỏi xe hay nên lội nước. Tôi phải gào to bắt Xơ phải ngồi yên chỗ cũ.
Sau những lần căng thẳng và lắc lư, con ngựa già cũng kéo được đôi càng xe lên bờ lạch, tuy nó vẫn dầm chân trong nước sâu trong ba tấc, run run vì sợ sệt. Tôi cũng run không kém, ngay cả ông Liên Chi cũng thế, vì cả hai chúng tôi đã kịp trở về trên đôi càng xe chỉ trong phút chốc để tránh bọn cá sấu.
À thế này cũng yên tâm rồi! – tôi nói như máy, vì khi quá sợ, người ta nói để quên – Chắc ở đấy có cái hố thật – tôi nhìn quanh và nói – Mọi chuyện đã yên chưa nào?
Nhưng rồi mọi chuyện vẫn chưa yên. Cái bửng phía sau bị rớt đâu mất. Vali của Xơ Finlay và hộp đồ lễ của tôi cũng không còn trong xe nữa. Chúng rơi mất, khi người đánh xe ngựa mải mê cho xe qua con lạch và giờ đây tìm đâu cũng không thấy.
Dừng lại cho một chút. Chúng tôi bị mất vali – tôi nói với ông Liên Chi, đồng thời nhìn xuống dưới chỗ ngồi, nhưng chẳng thấy đâu. Đêm xuống nhanh, nhìn lại phía sau, nước khá sâu, một màu xám kịt hãi hùng, có thể có cá sấu dưới đó. Có lẽ, muốn tìm ra vali của tôi cũng phải đợi đến mùa tạnh nắng. Trong lúc khẩn thiết, tôi có thể dùng chén trà làm ly lễ vì đã thường làm như thế, nhưng cái vali của Xơ thì quá quan trọng. Không có thuốc men và dụng cụ y tế, Xơ cũng chỉ làm giảm nhẹ cơn đau của bệnh nhân được chút ít thôi
Đợi một chút, tôi sẽ tìm ra chúng – tôi nói xong, trườn xuống nước ngay, dầu tôi sợ chết khiếp.
Xơ Finlay nói:
Trèo lên đi Cha!
Nhưng tôi vẫn chậm rãi bước lui, lấy chân quờ quạng trong nước để tìm hai cái vali, sợ cũng vẫn phải làm! Khi nước sắp sửa tới bụng ở bờ lạch mới vượt qua, chân tôi đụng phải một trong hai cái vali và tôi cúi khom người để vớt lên, thì chính là vali của tôi, vali chứa đồ lễ. Tôi reo lên:
Được một cái rồi! Cái kia chắc cũng gần đây thôi.
Và tôi lội lui bỏ nó lên xe. Oâng Liên Chi và Xơ Finlay đều phản đối tôi, tuy vậy vì quá sợ tôi không trả lời được và xăm xăm đi trở lại cái vụng kia để tìm nốt cái còn lại. Lúc này tôi không thể dùng chân mà tìm vì mực nước đã lên đến vai, tôi lặn xuống, tìm trong nước với đôi bàn tay giữa cỏ và bùn. Khi tôi nổi lên, cả ông Liên Chi và Xơ Finlay cùng nhảy ào xuống nước, xốc nách đỡ tôi lên và đưa lên càng xe. Tôi nói:
Một chút nữa thôi là tôi tìm ra ngay, để tôi thử một bận nữa.
Xơ Finlay vội la lên:
Cha điên rồi sao! Chỗ này cá sấu nhiều lắm. Đêm nay con sẽ cố gắng làm cho được, chẳng cần cái vali ấy đâu!
Nhưng thuốc men là ở trong ấy cơ mà – tôi nói.
Xơ thật sự nổi nóng:
Cha lên xe ngay đi. Con không hiểu tại sao Cha lại có thể điên đến thế!
Dĩ nhiên là tất cả chúng tôi đều sợ chết điếng, nhưng không nói ra, chứ Xơ đâu được phép nói với tôi như vậy.
Khi chúng tôi đã ngồi yên trong xe, ông Liên Chi mới quất roi cho ngựa chạy. Giờ thì trời đã tối hẳn, chúng tôi còn thấy được cái bóng mờ mờ của nổng đất ở trước mặt, nhưng tôi chẳng thấy bóng dáng của ngôi nhà đâu cả. Sau đấy tôi mới hiểu rằng cái nhà nằm trên nổng đất cách đấy một dặm là điểm cao nhất giữa hai con lạch, nuớc lụt chưa bao giờ chạm tới. Căn nhà một phần ở cuối nổng đất, còn phần kia, chúng tôi đang tiến đến.
Xe chúng tôi lội bì bõm trong nước dưới trời đêm. Nước càng ngày càng cạn, con ngựa già chạy càng nhanh hơn và giờ đây, trong ánh sáng mờ mờ, đường đi xuất hiện trước mắt chúng tôi quanh co xuyên qua những hàng cây bạch đàn và rồi đất khô xuất hiện. Sau đấy chúng tôi thấy một cảnh quang hết sức lỳ lạ. Đất ở dưới gốc cây, như thường lệ được trồng một lớp đất mỏng các loại cây nhỏ chậm phát triển, cây dương xỉ diều hâu và cỏ. Trong bụi rậm có các loại gia súc, hàng trăm loại. Nào là bò cái Hereford, bòđực Bramah, chuột túi loại nhỏ, vô số heo rừng da đen với cái mõm dài ngoằn và răng nanh hung ác. Cũng có đủ loại chó, chó Dingo, loại này giữ cừu, thả đi hoang và tạo giống trong rừng. Có cả loại gà tây, đà điểu nhỏ, kỳ đà, rắn mối và các loại rắn bò ngổn ngang trước mặt chúng tôi.
Tôi nói với ông Liên Chi:
Oâng đem tất cả những con vật này về đây mỗi năm vào mùa mưa phải không?
Oâng ta gật đầu:
Hằng năm. Tôi là Phật tử, tôi không ăn thịt chúng.
Chúng tôi đi qua những hàng cây và giờ đây tôi mong chochóng đến. Chúng tôi đã ngồi trên càng xe hàng giờ và bắt đầu thấy mệt mỏi. Trong lúc này, thân nhiệt của tôi lại tăng lên mỗi buổi chiều, tôi cảm thấy hơi sốt trong người nên mắt không nhìn được rõ và kém suy nghĩ. Tôi hết sức buồn khi nghe cơn sốt có thể trở lại, dầu sao tôi cũng phải chịu đựng cho tới khi trở về Landsborough vào ngày mai. Tôi cứ nghĩ, giá mà xuống được khỏi xe, uống một hơi dài đá lạnh, ngồi yên trong một cái ghế thoải mái một lúc tôi sẽ khoẻ lại ngay; lúc ấy lại có sức làm một việc gì khác trong đêm mà chẳng để cho Xơ Finlay nhận ra là tôi bị bệnh.
Cuối cùng tôi cũng thật cảm động thấy được căn nhà trong ánh sáng cuối cùng của ngày. Đó là một nơi nhỏ hẹp, tội nghiệp, với hai căn phòng xây bằng ván, lợp mái tôn. Không biết loại sơn gì đã một lần phếch lên, nay loan lỗ và tróc đi, mưa gió đã để lại một màu bạc phếch trên gỗ cũ. Căn nhà được xây trên những trụ cây, giống như các nhà ở thôn quê, có một số bậc cấp bước lên, một hàng hiên rệu rã. Có một hàng rào đã đổ bao quanh nhà, chạy dài vào bóng tối.Trong nhà chẳng có đèn đóm gì cả.
Oâng Liên Chi bước xuống xe, buộc dây cương vào hàng rào và bước lên bậc cấp. Chúng tôi theo sau. Trong nhà tối thui, chúng tôi nghe tiếng bật quẹt, ánh lửa bùng lên và tiếng nói của ông Liên Chi phát ra. Sau đấy ông ta thắp một cây đèn cầy cắm trong một cái đĩa trà để trên bàn. Ngọn đèn sáng dần và chúng tôi mới thấy được toàn bộ khung cảnh.
Trong phòng có một chiếc giường có mắc màng sẵn, mùng vắc lên phía sau, để lộ mảnh khăn trải giường và chiếc gối nhàu nát dơ bẩn. Oâng già Stevie nằm trên giường, có mặcáo sơ mi và quần dài nhưng chân không mang vớ, chỉ có khuy trên của chiếc quần là có cài. Trên chiếc ghế dựa đặt bên cạnh giường có cây đèn cồn nhỏ, một cái xe điếu bằng kim loại và một cái chén mắt trâu, lại có thêm một đĩa trà có chất gì nâu nâu ở trong đó. Một mùi cay cay khó chịu bay lên trong phòng. Trên nền nhà cạnh giường, một cây đèn dầu lạc rẻ tiền thường máng trên tường, giờ nằm ngã một bên, dầu trong đèn chảy ra đọng thành vũng trên sàn gỗ. Còn Stevie đang mê man.
Oâng Liên Chi đi đến nhặt cây đèn lên, dẹp bàn đèn nhưng chúng tôi đã thấy cả rồi. Xơ Finlay đi thẳng tới giường
Chào bác Stevie – Xơ nói – Tôi là Xơ Finlay ở bệnh viện đến. Bác bệnh sao?
Không có tiếng trả lời. Oâng già sau khi đẩy được tẩy uếõ, không hiểu vì say thuốc phiện hay bệnh tình trầm trọng thêm mà không nói được. Xơ Finlay cởi áo khoát, cầm tay Stevie để xem mạch, mắt đăm đăm nhìn vào đồng hồ tay
Cha có thể cho đèn sáng hơn một chút được không Cha? – Xơ yêu cầu – Con cần thấy cho rõ hơn.
Tôi nhặt cây đèn ở sàn nhà lên và nhìn kỹ, bóng đèn đã vỡ. Tôi hỏi ông Liên Chi:
Oâng cất dầu lửa ở đâu?
Oâng ta không trả lời tôi mà bắt đầu lục lọi trong căn phòng bừa bãi và cuối cùng tìm ra được một đoạn đèn cầy. Tôi nói:
Tôi có đèn bấm đây.
Và mở cái vali sũng nước ra. Cây đèn nằm bên áo lễ lỏng bỏng nước, tuy vậy nó vẫn sáng. Oâng Liên Chi cười và hướng dẫn tôi đi xuống dưới nhà, nhà nằm trên các cột chống như những nhà ở thôn quê vậy. Dầu lửa để ở đây, nhìn quanh, tất cả chỉ có thùng dầu lửa mà thôi. Ai đó, chỉ có thể là Stevie, đã để cho vòi dầu chảy, tràn ra cả mặt nền nhà, thấm ướt và chảy xuống nước. Tôi không biết chắc vì sao ông ta làm thế, nhưng tôi nghĩắt hẳn ông đã đi xuống dưới này để lấy dầu châm thêm đèn và rồi cơn đau thắt ngang lưng ập đến và điều ông chỉ có thể làm là cố gắng lết cho được về tới giường nằm. Dầu sao thì thùng dầu cũng sắp cạn.
Oâng Liên Chi cầm một cái lon và nhờ tôi cầm, còn ông thì dốc ngược thùng dầu đổ từ từ vào lon, nhưng chỉ được đầy một muỗng
Chừng đó thôi sao, ông Liên Chi? – tôi hỏi – Oâng còn thùngdầu nào nữa không? Chừng này dầu lửa thôi sao?
Oâng ta lắc đầu:
Hết rồi!
Thật là xui xẻo nhưng biết làm gì hơn được. Oâng ta cầm cái phểu và tôi rót hết số dầu còn lại vào đèn, cũng được một phần tư. Chúng tôi trở lại nhà và giải thích cho Xơ Finlay rõ mọi chuyện. Tôi nói:
Xin lỗi Xơ. Nhưng dầu lửa chỉ còn chừng ấy thôi. Tôi không nghĩ là đủ thắp trong đêm nay. Khi Xơ làm xong, ta nên vặn lu một chút là đủ
Tôi giúp Xơ cởi quần dài cho ông Stevie để Xơ dễ khám bệnh. Chúng tôi để ông nằm ngửa, ông vẫn chưa tỉnh. Sau đấy tôi cầm đèn trong lúc Xơ khám phần bụng của ông ta. Bụng có sưng lên rõ rệt vì khi Xơ lấy tay nhẹnhàng ấn xuống, ông ta cựa quậy và rên lên mặc dù đang ngủ say. Giờ đây, Xơ đã kéo dra lên đắp ngang bụng ông già, trầm ngâm đứng nhìn ông ta. Cuối cùng Xơ nói:
Có lẽ bị viêm màng bụng. Chúng ta cũng khó mà làm gì được vì ông ta đã dùng nhiều chất ma tuý quá!
Xơ xoay về phía ông Liên Chi:
Bác làm ơn cho tôi biết những vật trên bàn kia – Xơ vẫn dùng lời lẽ ôn tồn – Xe điếu và thuốc phiện.
Oâng ta lẳng lặng đem bàn đèn ra cho Xơ coi.
Xơ hỏi:
Oâng ấy hút có nhiều không?
Ba lần – ông ấy trả lời – Hút xong ba lần. Trời tối là đi ngủ. Ngon mấy cũng không hút nữa.
Bác cũng hút chứ bác Liên Chi?.
Oâng ta gật đầu
Xơ Finlay lại hỏi tiếp:
Hút ba điếu mà ngủ say như thế cơ à?
Oâng ta lắc đầu:
Hôm qua ông ấy hút nhiều, cả hôm nay nữa. Hút cho đỡ đau!
Theo bác, hôm nay ông ta hút bao nhiêu điếu?
Oâng ta nhặt cái đĩa lên, nhìn vào chất còn sót lại, đó là một chất nhựa có màu nâu đọng dưới đáy đĩa.
Mười – à, mười một – ông ta nói – tôi cũng không chắc. Có lẽ ông ta thức dậy thấy đau, hút một hai điếu gì đó rồi đi ngủ lại, ông ấy ngủ cũng một hai tiếng rồi!
Xơ cúi mình trên người nạn nhân, cẩn thận đưa tay vạch mí mắt của ông ta. Tôi cầm đèn trong lúc Xơ nhìn vào mắt ông ấy. Sau đấy Xơ đứng dậy và nói:
Dầu sao chưa đến nỗi nặng lắm. Làm thế nào cũng phải đưa ông ấy đến phi trường vào ngày mai và nhờ máy bay cứu hộ chở ông ta đến Curry. Ơû đấy mới phẫu thuật được. Nếu không bị mất vali, chắc tôi cũng cho ông ấy uống một liều giảm đau, nhưng giờ này ông đã tự làm giảm đau rồi. Đôi lúc, trong vài trường hợp, có thể đấy là sự may mắn.
Tôi gật đầu và hỏi:
Thuốc phiện là thứ gì?
Là chất mót phin – Xơ nói – Con không biết trong đó có chất gì khác nữa , nhưng mót phin là thành phần chính trong đó. Đó là chất mà con phải chích cho ông ta khi cần thiết, cũng giống như một chất thuốc mê.
Chẳng còn việc gì để làm, tôi mỏi mệt ngồi trên một vali áo quần bên cạnh một cái bàn, trên đó rất bừa bãi một vài thức ăn xongmà chưa dọn. Đầu tôi cứ quay quay và nóng lên. Tôi mơ hồ nghe tiếng Xơ Finlay nói:
Chúng ta phải canh chừng ông ta đêm nay và hy vọng ngày mai, thế nào ngày mai cũng đưa ông ấy ra khỏi nơi này.
Tôi cố gắng lắm mới nghe rõ câu nói của Xơ. Tôi nói:
Mưa thế này, sợ nước lên cao quá.
Con cũng đang lo như vậy.
Dừng một lát, Xơ lại nói tiếp:
Cha thấy trong người thế nào?
Vẫnkhỏe – tôi trả lời.
Tôi cảm thấy như có tay Xơđang cầm tay tôi xem mạch và giọng Xơ vang lên:
Cha có khoẻ đâu, cha đang bị sốt mà!
Không hề gì đâu! Cha cần nước uống – tôi nói
Tôi mơ màng nghe tiếng Xơ nói với ông Liên Chivà tiếng khẩn khoản gì đó, nhưng tôi chẳng hiểu gì. Sau đó Xơ đưa cho tôi một ly nước, có mùi như nước lụt, tôi uống xong thấy khoẻ ra và hơi tỉnh táo.
Giờ đây tôi thấy ông Liên Chi ở phòng bên kia, có cái bếp nấu bằng củi và bắt đầu dọn thức ăn ra bàn. Oâng dọn ra ba cái bát lớn bằng gỗ, ba cái muỗng gỗvà bánh mì tự làm lấy nên hình thù trông xấu xí. Cuối cùng, ông ta mang vào một cái xoongbằng đồng, đầy súp, còn bốc khói, trộn với nhiều loại rau cải. Đây là bữa ăn tối của chúng tôi. Chúng tôi ăn rất ngon miệng, tôi ăn những hai chén và còn muốn ăn nữa. Aên xong uống nước trà đen, không đường.
Trong lúc chúng tôi đang nhâm nhi nước trà ở bàn ăn thì trời tạnh mưa. Tiếng mưa rây đều đều trên mái tôn như một âm thanh không bao giờ dứt, giờ đây đã dịu đi và ngừng hẳn. Tôi ngẩng nhìn Xơ FinlayvàXơ nhìn lại tôi.
Thế này thì dễ chịu hơn – tôinói – Cha bắt đầu lo là không biết làm thế nào để đưa ông ấy đi ngày mai.
Con cũng đang lo nhưChavậy – Xơ nói – Nếu nước lụt sâu hơn, làm sao mà tìm được một con thuyền.
Ơû Dorset Downs thì có thuyền – tôi nói – Donovan biết chúng ta ở đây. Thế nào ông ấycũng sắp xếp cho chúng ta vào sáng mai.
Tôi quay sang ông Liên Chi:
Từ đây đến Dorset Downs bao xa vậy ông?
Độ muơi, mười lăm dặm, không xa đâu – ông ta trả lời
Giờ đây chẳng có việc gì nhiều cho Xơ Finlayvàcả tôi. Stevie thì hôn mê, dầu cũng chỉ một hai lần nhúc nhích. Tôi liền trở dậy và đi ra hàng hiên, ở đây mát hơn, tiếng gió nhẹ vi vút đâu đây làm cho cơn sốt của tôi hạ xuống. Mây tan đi, vầng trăng rằm thỉnh thoảng lại xuất hiện, chiếu ánh sáng bạc xuống vạn vật trong đó có căn nhà chúng tôi đang ởvà cánh rừng bạch đàn xa xa.
Tôi vẫn đứng đấy để mặc cho gió nhẹ thổi lộng vào áo quần trong lúc mắt tôi dần dần quen với cảnh vật trong đêm. Và rồi tôi thấy một quang cảnh hết sức lạ lùng.
Những con vật còn đấy, đứng có, nằm có, ở vùng cỏ đã dọn sạch, tập hợp lộn xộn thành nửa vòng tròn quanh ngôi nhà. Đầu của chúng nó quay về hướng chúngtôi vàchăm chú nhìn. Không những gia súc, chó rừng, chó dingo, heo rừng, chuột túi nhỏ, cũng tập hợp cách hàng hiên chưa đầy một trăm mét. Chúng không có vẻ gì đang gặm cỏ hay đi luiđi tới ồn ào, mặc dầu chúng không phải là bất động, một hai con chó đang cào đất và mấy con bò thì đổi chỗ đứng. Nhưng chúng vẫn đứng hoặc nằm nửa vòng tròn quanh nhà và nhìn vào chúng tôi
Tôi đi vào phòng và nói với Xơ Finlay:
Xơ ra đây mà xem!
Xơ đưa mắt ra hàng hiên và khi mắt Xơ đã quen với ánh trăng, Xơ cũng thấy bầy súc vật
Có lẽ là ngọn đèn - tôi nói – Tôi nghĩ là ngọn đèn đã lôi cuốn chúng.
Đàng sau chúng tôi, ông Liên Chi đang nói lầm thầm gì trong miệng và ông ta im ngay, tôi không biết ông ta đã có mặt ở đấy, Xơ quay về phía ông ấy và hỏi:
Oâng thường tập hợp chúng như thế sao?
Oâng nói câu gì đó mà chúng tôi không hiểu và rồi ông ta trở vào nhà. Chúng tôi đứng ngoài hàng hiên một lúc nhìn bầy súc vật, và vì không có ông Liên Chi nên tôi có thể hỏi Xơ tự do:
Tình trạng ông Stevie hiện tại như thế nào, Xơ? Xơ có nghĩ rằng ông ta qua được không?
Xơ nói:
Con cũng lo lắm, thưa Cha. Con cũng chưa chắc ông ta bệnh gì. Có thể là viêm màng bụng và như thế thì phải đi đến Cloncurry. Cũng có thể, ông ta chết đêm nay.
Tôi gật đầu đồng ý:
Tôi xin lỗi về cái vali thuốc của Xơ. Nếu trời tạnh ráo, tôi phải tìm mới được.
Chẳng quan trọng đâu Cha – Xơ trả lời – Con chẳng xài được gì mấy những thứ trong vali ấy!
Chúng tôi đứng ngoài hàng hiên một lúc nữa. Tôi còn đang sốt nhưng ngoài trời thoáng mát.Giờ đây tôi lại cảm thấy lạnh và bắt đầu run. Tôi xin lỗi và đi vào phòng. Oâng Liên Chi không có mặt ở đấy nhưng giờ đây trong phòng có mùi hương thoảng thoảng. Tôi đi tìm ở phòng khác xem thử có gì.
Căn phòng được chiếu sáng bởi một cây đèn cầy, giờ đây chỉ còn leo lét. Trong góc phòngcó một bàn thờ nhỏ loè loẹt có phủ rèm, ở trong có một tượng Phậtlàm bằng thạch cao sơn đỏ, đã bị ám khói. Trước tượng có một cây nhang đang cháy đỏ. Oâng Liên Chi đang quỳ trước bàn thờ, yên lặng cầu nguyện. Tôi lặng lẽ rút lui.
Tôi nói nhỏ với Xơ:
Oâng ta đang cầu nguyện trong đó, trước một ông bụt.
Xơ ngạc nhiên nhưng chúng tôi chẳng thể làm gì với việc ấy cả, đấy không phải là địa hạt của chúng tôi. Chúng tôi vặn nhỏ ngọn đèn để tiết kiệm ngọn đèn và yên tâm ngồi đợi chuyện gì sẽ xãy đến. Tôi ngồi ngủ gà gật trên ghế, vừa lên cơn sốt. Aùo quần của tôi lúc ấy khô nhưng tôi vẫn thấy khó chịu. Chốc chốc, tỉnh dậy, tôi lại uống một ly nước lụt, rồi trở về chỗ ngồi.
Tôi không biết lúc ấy là mấy giờ thì ông Stevie tỉnh lại, có lẽ mười hay mười hai giờ gì đó. Chúng tôi đến đây cũng được vài giờ. Tôi ngủ thiếp đi và thức dậy, đã thấy Xơ Finlay đi đến bên giường, tôi đứng dậy đi theo. Xơ đang bắt mạch cho ông ta, lúc này ông ấy không nằm yên. Hai hay ba lần mắt ông ấy mở ra, nhắm lại. Oâng ấy co đầu gối lên ép vào dạ dày, chứng tỏ là đang đau lắm.
Oâng ta lên cơn rồi đấy! – Xơ thì thầm nói – Đã đến lúc chúng ta phải làm việc rồi Cha ạ! Gía mà có cái vali của con!
Tôi bước tới gần bàn, vặn sáng đèn lên, rồi trở về giường. Oâng Liên Chi có lẽ bị đánh thức vì tiếng động của chúng tôi bước ra từ phòng bên cạnh. Oâng ta đứng yên lặng với chúng tôi một lúc, nhìn bệnh nhân từ từ tỉnh lại và đau đớn. Rồi ông ta nhẹ nhàng ra hàng hiên và đứng nhìn ra ngoài trời.
Tôi chẳng làm gì được nên theo chân ông ta ra đứng đấy trong lúc mắt bắt đầu quen với bóng đêm. Aùnh trăng bị gián đoạn và bóng đêm bị bao phủ khi những đám mây dày trôi qua che lấp mặt trăng. Mây trôi đi, ánh bạc chiếu xuống, tôi thấy những bầy súc vật còn nhìn chúng tôi, còn nhiều hơn trước đây. Tôi hỏi ông Liên Chi:
Súc vật thường đến đây vào mùa mưa phải không ông?
Oâng ấy trả lời:
Oâng Stevie sẽ chết đêm nay.
Không đâu – tôi nói – Chúng tôi sẽ đưa ông ta vào bệnh viện vào ngày mai.
Oâng ta lắc đầu:
Súc vật đến đây. Tôi nghĩ ông ấy sẽ chết.
Tôi nhìn ông ngạc nhiên :
Oâng nghĩ rằng súc vật biết?
Oâng ta gật đầu:
Súc vật có linh tính.
Tôi không thể hiểu tại sao cái chết của một ông già phóng đãng, nát rượu lại làm động lòng thế giới loài vật đến như vậy, nhưng chẳng ích lợi gì đi tranh cãi với ông Liên Chi vấn đề này, nếu thật sự những vấn đề ngôn ngữ cho phép thảo luận. Tôi còn đứng thêm với ông ta vài phút nữa và sau đó trở vào phòng cùng Xơ Finlay và bệnh nhân của Xơ.
Stevie bây giờ đã tỉnh táo hẳn và rõ ràng là ông ta đau nhiều. Oâng có rên nho nhỏ, thỉnh thoảng bộ mặt ông biến dạng khi cơn co thắt hành hạ ông, và điều này gây ấn tượngvới tôi nhiều hơn tiếng rênông ta phát ra.
Khi ông ta thấy tôi, ông ta hỏi Xơ Finlay:
Vị mục sư người Anh làm gì ở đây?
Tôi nghĩ rằng ông ta nói đến vị mục sư như bao vị mục sư khác, nhưng Xơ Finlay nghĩ rằng có ý xấu, nên Xơ hỏi ông ta có ý gì khi nói đến một mục sư người Anh. Là gì đi nữa thì tôi cũng chẳng quan tâm. Tôi đến bên giường và hỏi:
Tôi đi cùng Xơ Finlay đến đây khi được tin anh bệnh. Đáng ra Trung sỹ Donovan đã đưa Xơ đến đây, nhưng vì ông ấy phải đi Millangarra, nên tôi đi thay. Anh thấy trong người thế nào anh bạn?
Oâng ta thì thào :
Tôi đau lắm, đã ba ngày nay rồi. Cha có đem theo huýt ki không?
Không anh ạ! – tôi nói – tôi chẳng mang theo. Dầu sao cũng chẳng có lợi cho anh đâu!
Oâng nhìn tôi một lúc rồi nói:
Tên Cha là Roger phải không?
Đúng rồi. Tôi là Roger, còn anh là Stevie.
Tôi biết – ông ta nói – Thiên đàng , địa ngục, quanh quẩn chỉ có thế!
Tôi cũng nhận ra Xơ Finlay đang giận run lên. Phải nói rằng, chẳng có vẻ gì tỏ ra là Stevie thích những lời an ủi thiêng liêng của tôi. Tôi nói:
Anh hãy cố cho mau khỏe, ít hôm nữa, chúng ta lại có thể thảo luận với nhau. Chúng tôi sẽ đưa anh đếnLandsborough ngày mai và rồâi máy bay cứu hộ sẽ đưa anh đến Cloncurry
Tôi còn bay xa hơn thế – ông ta thì thầm – Lên rồi xuống, lên rồi xuống, khắp cả thế giới, có chở cả Nữ hoàng. Ottawa, Keeling Cocos, Nanyuki, Ratmalana. Tôi biết tất cả những nơi này. Tôi đã đến Seventh Vote. Cha đã đến đấy chưa? Cha có biết rằng tôi đã đến đó không?
Tôi liếc nhìn Xơ, thấy Xơ hơi nhăn mày. Dĩ nhiên, ông ta đang vận dụng trí nhớ. Có lẽ điều gì làm động não thì cơn đau cũng quên đi. Và như vậy cũng có ích thôi vì khỏi chích thuốc giảm đau. Tôi trả lời:
Tôi chưa bao giờ nghe đến tên đó. Làm sao anh đến đó được?
Cơn đau lại đến giày vò ông ta và bộ mặt của ông ta biến dạng theo cơn co thắt. Dòng tư tưởng bị phá vỡ, ông nói chẳng suy nghĩ:
Tôi bệnh đã ba ngày nay. Cha có witky không Cha?
Rất tiếc tôi không mang theo – tôi kiên nhẫn trả lời, Xơ Finlay nói:
Nằm xuống đi, cố gắng ngủ đi một chút bác Stevie. Bây giờ đến sáng mai không còn lâu nữa đâu. Chúng tôi sẽ đưa bác đến bệnh viện.
Tôi tự động rút lui khỏi nơi ấy. Một phần tôi chẳng biết cách chữa trị mà giúp Xơ một tay, một phần vì tôi lại lên cơn sốt và vã mồ hôi, cái đầu thì muốn xoay vòng vòng nhưng tôi lại không muốn cho Xơ biết tình trạng của tôi. Aûo giác về ông già cứ chạy quanh quanh trong đầu óc mệt mỏi của tôi nào là the Seventh Vote, Ottawa, Keeling Cocos, máy bay chở Nữ hoàng. Tôi hình như nhớ ra rằng ông ta đã nói chuyện với tôi như thế. Tất cả những chuyện này từ đâu đến, những kỷ niệm lang thang nào đã cùng nhau đến để được diễn tả bằng những từ như thế? Những bản sao chép của các tạp chí du lịch về Ottawa và Keeling Cocos? Một bài báo nào trong tuần san phụ nữ của Uùc về Nữ hoàng? Và rồi chủ đề bây giờ lại được nói một lần nữa. Nhưng tất cả đều dễ, bởi vì khi người đàn ông đã một lần làm sĩ quan hoa tiêu lái một máy bay thì kỷ niệm in sâu trong óc anh ta và anh ta không bao giờ có thể quên được.
Tôi ngồi đấy, trong người nóng ran khó chịu, trong lúc sự khủng hoảng lại xãy ra ở trên giường. Từ đàng xa, tôi nhìn thấy rõ những cơn co giậtvà thấy Xơ Finlay đã cố gắng hết mình để giúp đỡ nạn nhân, nhưng sức người có hạn. Từ phòng bên, ông Liên Chi đem đến vải nhúng nước nóng, còn bốc hơi và đặt trên chiếc bụng xương xẩu, cứng đơ. Giờ này, khi cơn sốt đã hạ, tôi thấy trong người hơi nhẹ nhõm, tôi nghe được tiếng ông già ấy nói:
Có ông Liên Chi đấy không?
Oâng ta ở phòng bên - Xơ Finlay trả lời – bác muốn nói chuyện với ông ấy sao?
Stevie gật đầu và Xơ gọi ông Liên Chi đến bên giường. Oâng Liên Chi hỏi:
Anh cần gì, Stevie?
Tôi cần hút, anh bạn ạ! – ông già trả lời
Oâng già người Hoa nhìn Xơ, Xơ lắc đầu, ông đành lặng lẽ rút lui khỏi phòng, để mặc cho Xơ đối phó với người bệnh.
Xơ nói:
Giờ này thì không được. Hôm nay bác đã hút đủ rồi. Hút thêm nữa, có hại đấy. Chịu khó đi, tôi sẽõ đắp khăn nóng cho bác đỡ đau
Không nghe tiếng đáp lại, một lúc sau, tôi nghe ông ấy giọng rất yếu:
Cho tôi uống witky, đi Xơ. Tôi là thằng quỉ tha ma bắt.
Rất buồn lòng nhưng Xơ cũng gắng gượng nói:
Tôi không có witky đâu , bác Stevie ạ!Và như vậy cũng tốt cho bác thôi. Nằm yên đi và cố gắng mà nghỉ ngơi.
Cơn co giật lại đến với ông ta. Tôi thấy Xơ dùng cả hai tay ấn vai ông ấy xuống. Oâng Liên Chi ắt hẳn cũng có mặt ở đâu đấy ở đàng sau mà theo dõi và ông ta lâu lâu phải trợ giúp Xơ. Cả hai người phải vật lộn với ông Stevie cho đến khi cơn co giật chấm dứt. Tôi cảm thấy mắc cỡ vì bản thân tôi không giúp được Xơ gì cả. Tôi phải đầu hàng vì sự yếu đuối của tôi sao? Tôi quyết đứng dậy và đi về phía bàn.
Tôi ngờ nghệch hỏi:
Tôi giúp được gì chăng?
Bệnh nhân đã nằm yên tạm thời, chờ đợi cơn giật kế tiếp chưa biết đến lúc nào. Xơ quay lại phía tôi, mồ hôi nhễ nhại sau cuộc phấn đấu, một mái tóc đổ xuống phủ lấy đôi mắt, tuy vậy Xơ vẫn hỏi:
Cha thấy trong người thế nào?
Cũng bình thường – tôi trả lời – Hồi nãy hơi khó chịu nhưng bây giờ đã khá rồi!
Xơ vừa tự chải tóc lật ra phía sau vừa nói:
Mời Cha ra ngoài hàng hiên cho mát.
Chúng tôi đi ra khỏi phòng, mặt trăng còn soi sáng đầy đặn trên khoảng đất trống giữa cánh rừng, và các bầy súc vật vẫn còn đứng nhìn chúng tôi. Xơ quay sang nói với tôi, giọng nhỏ hơn:
Con biết Cha đang sốt. Cha có hiểu con nói gì không, Cha?
Tôi trả lời:
Dĩ nhiên, Cha rất thông cảm với con.
Xơ gật đầu:
Con không nghĩ rằng ông ấy gặp may – tiếng Xơ nhỏ dần. Xơ nhìn đồng hồ và nói thêm – Từ khi ông ấy tỉnh, đã được một giờ mười phút, và thì giờ ông ta yếu hơn lúc nãy. Con sợ ông ấy chết trước khi trời sáng, thưa Cha.
Tôi gật đầu tán đồng:
Cha cũng nghĩ như vậy. Chúng ta không làm gì được sao?
Không làm được gì đâu, Cha ạ! Điều độc nhất có thể làm được là phẫu thuậtngay, mà con không làm được điều đó. Cho dù con không mất vali y tế, con cũng không làm được gì cho ông ấy, trừ chích cho ông ta một liều giảm đau. Hiện trạng là ông ta đang đau ghê gớm.
Tôi trả lời:
Cha cũng biết như vậy. Xơ lại nói tiếp:
Con nghĩcông việc của chúng ta hiện nay là làm thế nào cho ông ta dễ chịu. Con không nghĩ là cho ông ấy hút thêm vài điếu thuốc phiện là gây nguy hại cho ông ta, và như thế thì tình trạng có gì thay đổi đâu! Cha có nghĩ rằng đó là điều quá tệ hại?
Tôi lắc đầu:
Không, Cha nghĩđó là điều tốt nhất mà con có thể làm được.
Xơ nói nho nhỏ:
Cái ấy trong nghề nghiệp không có. Con cũng không rõ… Nếu ông ta bớt đau, thì có thể giữ được sức khoẻ.
Tôi nói:
Cha sẽ để cho ông ấy hút.
Xơ gật đầu:
Thì cũng phải thế thôi.
Rồi quay về phía tôi Xơ nói:
Con không nghĩ thuốc phiện làm ông ấy chết nhưng nếu ông ấy hút đủ để ngất đi, có thể ông ấy chết trước khi tỉnh lại. Con muốn Cha hiểu tình trạng như thế đấy, thưa Cha
Tôi nói:
Tuy vậy, Cha nghĩ là Xơ nên cho ông ấy hút – suy nghĩ chốc lát, tôi lại nói tiếp – Nếu được Cha sẽ ngồi nói chuyện với ông ta trong lúc ông ta từ từ đi vào giấc ngủ.
Sau lưng chúng tôi, màn đêm đã buông xuống từ lâu. Xơ nói:
Dĩ nhiên là con chưa bao giờ thấy tác dụng của thứ thuốc này và cũng không biết phải mất bao lâu. Nếu nó giống như các loại thuốc khác, sẽ có một giai đoạn ngủ thiếp đi và khi ấy đâu biết đau là gì, trước khi ngủ hẳn. Oâng ta cũng có thể tỉnh táo nói chuyện trong vài phút.
Đàng sau chúng tôi, bóng tôi bò ra khỏi phòng, và đang bủa vây chúng tôi. Xa xa ngoài khoảng đất trống, bầy gia súc vẫn còn tập trung chờ đợi. Xơ hơi rùng mình
Những con vật kia….
Nói xong Xơ nhìn ông già nằm đấy
Lạy chúa tôi.
Chuyện gì the,á Xơ? – hỏi xong tôi hiểu ngay.
Căn phòng sau lưng chúng tôi hoàn toàn tối hẳn, vì dầu trong cây đèn đã cạn, giờ đây chỉ còn lại leo loét một đốm lửa xanh.
Đừng lo – tôi nói – Đang còn đèn cầy mà!
Tôi đi vào phòng bên và gọi:
Bác Liên Chi.
Oâng ta đi ra ngay, tay cầm cây đèn dầu lên, lắc nhẹ nhưng chẳng còn giọt dầu nào. Tôi đi đến chiếc vali, mở ra, lấy cây đèn bấm.
Đây rồi!
Aùnh đèn vàng chiếu trên nền gạch. Tôi hỏi:
Oâng có tìm được cây đèn cầy nào nữa không ông, Liên Chi?
Đèn cầy nhỏ thì cũng có, nhưng ít thôi.
Oâng ta trả lời và đi qua phòng kế bên, khi ông ta trở về đã có cây đèn cầy ngắn ba phân cắm trên chiếc đĩa trà.
Tôi hỏi:
Chừng đó thôi sao?
Oâng ta gật đầu:
Hết đèn cầy rồi sao?
Oâng ta lắc đầu:
Hết dầu lửa? Không còn gì để thắp đèn?
Oâng ta lại lắc đầu:
Tôi quay về phía Xơ:
Cha sợ chúng ta ngồi trong tối trước khi trời sáng. Cây đèn cầy ấy chẳng bao lâu nữa sẽ tắtvà đèn bấm thì sắp hết pin.
Xơ mỉm cười:
Chuyện này rồi đến chuyện khác xãy ra đêm nay, thưa Cha. Nếu ông ta đi vào giấc ngủ rồi, thì cũng chẳng quan trọng gì. Chúng ta có bổn phận phải canh chừng ông ta, nhưng khi ông ta đã ngủ thiếp đi, tốt hơn nên tắt đèn vì còn đề phòng sau này mà dùng nữa. Oâng ta co ùthể tỉnh lại, chưa biết chừng.
Cha cũng nghĩ đó là phương cách tốt nhất ta cần làm.
Xơ quay về phía ông Liên Chi:
Bác cứ đưa cho ông ta cái xe điếu, tuỳ ông ta muốn hút thì hút.
Một điếu thôi? – ông ta hỏi
Oâng ta cầm đèn bấm của tôi và bước nhanh sang phòng kế bên. Oâng trở về ngay với xe điếu, cây đèn dầu lạc và cái chất màu nâu trên đĩa trà mà ngay khi mới vào phòng, chúng tôi đã thấy trên ghế dựa cạnh giường.
Xơ Finlay nói:
Oâng Liên Chi đã mang xe điếu đến cho bác, bác có muốn hút không, bác Stevie. Hút ngay bây giờ một điếu đi!
Oâng ta không nói gì, đang ở tư thế nằm ngửa, ông muốn trở mình nằm nghiêng sang bên phải. Xem ra, ông không thể di chuyển phần dưới của cơ thể. Oâng Liên Chi tiến tới cùng Xơ Finlay giúp ông ta nằm thoải mái về một bên. Sau đấy ông Liên Chi thắp ngọn đèn dầu lạc lên, lấy cái xiên nhỏ nhúng vào chất nhựa màu nâu, lấy ra một miếng bằng hạt đậu, nướng trên ngọn lửa xanh cháy xèo xèo. Xong ông ta vo tròn cục nhựa nhét vào lỗ nhỏ ở bộ phận xe điếu, đưa bộ phận ấy lên lửa, ngậm vào cuối xe điếu rít từ từ, cục nhựa cháy lên, ông ta hít hơi vào. Xong đưa đưa điếu cho ông Stevie. Oâng già cầm xe điếu đưa lên miệng, bắt đầu hít thật sâu, giữ trong phổi vài giây rồi phì khói ra bằng mũi, mùi khói khét lẹt, khó chịu. Oâng ta hít như thế ba bốn lần. Xem ra, ông ta hầu như thoải mái tức thì vì chỉ trong một hai phút ông ta nằm yên thư giãn, những đường nét mệt mỏi đau đớn đã dịu đi trên khuôn mặt của ông ta. Xe điếu hầu như đã chấm dứt nhiệm vụ sau những lần hít như thế vì ông ta đã trao nó lại cho ông Liên Chi.
Oâng già Hoa hỏi:
Điếu nữa nhé?
Oâng già Stevie gật đầu. Oâng Liên Chi đang chuẩn bị tẩu cho điếu thứ hai. Tôi tiến tới và ngồi xuống trên mép giường.
Bác Stevie này. Tôi là Roger Hargreaves. Chắc bác biết tôi, tôi là mục sư của Landsborough. Bác nhớ không?
Tôi biết. Cha đã thắng cá ngựa con Ô Lạc.
Đúng rồi!Chúng ta đã quen thân. Giờ đây bác bệnh. Bác sẽ ngủ thôi, sau khi đã hút những cử thuốc này. Trong lúc bác ngủ, chúng tôi sẽ đưa bác đến bệnh viện để phẫu thuật. Tôi nghĩ rằng, cuộc phẫu thuật sẽ thành công, bác sẽ khỏe mạnh trở lại, nhưng bất cứ một cuộc phẫu thuật nào cũng có sự may rủi.
Rồi đây, tôi cũng sẽ chết, ông Liên Chi vàXơ Finlay cũng thế thôi. Chúng ta phải đối diện với cái chết đúng lúc, bác Stevie! Bác có thể từ giã cõi đời đêm nay. Bác có muốn tôi cầu nguyện cho bác không, trước khi bác đi ngủ không?
Địa ngục, thiên đàng - ông ta thì thầm - Tôi cũng chẳng cần lắm đâu.
Tôi biết bác không cần - tôi nói - Thế đức tin của bác là gì khi bác đã rửa tội, bác Stevie nhỉ? Thế bác đã đi nhà thờ nào khi bác còn trẻ?
•Tôi chẳng đi đến nhà thờ nào cả- ông ta nói - Tôi đã trút bỏ tất cảkhi ở trại chăn nuôi súc vật.
Thế khi bác ở quân đội trên thẻ bài của bác ghi chữ gì? Tin lành (C.of.E.) hay Thiên Chúa giáo La Mã (R.C) hay gì nữa?
Tin lành (giáo hội Anh Cát Lợi), họ gọi tôi thế - ông ta trả lời
Thế bác là tín hữu của tôi rồi! - tôi nói tiếp - Bác Stevie ơi, tôi chỉ cầu nguyện cho bác hai điều nhỏ thôi, rồi bác hãy trả lời tôi một hay hai câu hỏi, rất đơn giản. Hãy lắng nghe nhé!
Và tôi đã làm được điều tôi phải làmvà ông ta đã ngoan ngoãn nghe theo và tôi đã cho ông ta được miễn xá. Sau đó ông Liên Chi chuẩn bị điếu thứ hai. Ông ta cầm lấy và hút, lúc này có vẻ dễ dàng hơn nhiều và cơn đau cũng thuyên giảm.
Ông ta trả lui ống điếu cho ông Liên Chi
Thêm nữa không? - ông Liên Chi hỏivà ông già Stevie gật đầu. Liếc nhìn Xơ Finlay, thấy ban đầu thì Xơ nhún vai và sau đấy thì gật đầu.
Stevie nói:
Tôi sắp chết, phải không?
Tôi trả lời:
Không đâu. Nếu phải thì chẳng có gì đáng sợ.
Tôi là thằng quỷ tha ma bắt - ông ta nói nhỏ - Xơ không cho tôi hút ba cử, trừ phi tôi là thằng quỉ tha ma bắt ác ôn. Tôi không sợ chết. Tôi sẽ đi chở Nữ hoàng.
Những ám ảnh đã trở về và phải chăng đó là thuốc phiện? Có lẽ ký ức phai nhòa đã bị đầu độc hay vì chất thuốc kỳ dị kia mà ra.
Bác yên tâm - tôi bình tĩnh nói - Chúa lòng lành không nỡ phán xử bác đâu!
Cha chẳng biết được gì đâu - giọng nói yếu ớt của ông già khàn khàn phát ra - Con có thể kể cho Cha nhiều chuyện lắm. Ông già Liên Chi mới lập luận sắc bén, chứ con nói chẳng hay đâu, con biết như thế. Con sẽ đầu thai làm kiếp khác, nhưng chẳng hề gì, vì mọi người cũng như thế cả. Tuy nhiên nếu được đầu thai ở hạng dưới cùng, sẽ yên tâm hơn.
Hình như ông ta bị thuyết phục bởi sự đầu thai theo một hình thức nào đó, nhưng ông ta quá bệnh hoạn nên tôi không thể thảo luận với ông. Nhưng ngay cả tôi cũng bệnh hoạn không kém, cơn sốt đã đến với tôimột lần nữa làm tôi vật vã và toát mồ hôi.
Tôi nói:
Bác hãy yên tâm. Chúa sẽ thương xót đến bác.
Một khoảng yên lặng kéo dài, trong lúc ông Liên Chi đang sửa soạn xe điếu cho lần hút tiếp theo, có tiếng nói khàn khàn phát ra:
Tôi không sợ chết. Chết chẳng là gì cả. Như ông Liên Chi đã hướng dẫn. Chỉ là ngủ quên mà thôi và đi vào một thế giới khác như đi vào một giấc mơ. Tôi cho rằng thà ở nơi ấy hơn ở đây.
Cơn sốt kéo đến làm cho người tôi say say nên không nói với ông ta được gì cả. Ông Liên Chi đốt cháy cục thuốc phiện nơi xe điếu và đưa cho ông Stevie. Sau khi hít mạnh vào bốn năm lần, ông ta trả xe điếu lại cho ông Liên Chi
Thêm lần nữa nhé?
Ông già Stevie lắc đầu từ chối và dựa đầu lên gối nằm nghỉ. Ông Liên Chi thu dọn bàn đèn và bước qua phòng bên. Tôi tiến đến ngồi xuống ghế cạnh giường. Xơ Finlay cúi khom người, xem mạch ông già một lần nữa và đứng lên.
Xơ nói vừa đủ nghe:
Chúng ta đi ra thôi!
Tôi gật đầu nói:
Cha ngồi với ông ta một chút nữa - khi nhìn cây đèn cầy leo loét cháy, tôi nói thêm- Nếu muốn tiết kiệm, Xơ có thể tắt đèn cầy đi cũng được. Rồi đây, chúng ta còn cần nữa. Cha đã có đèn bấm rồi!
Xơ tiến đến bên bàn và thổi tắt ngọn đèn cầy. Tôi bật đèn bấm lên một chút. Bàn tay ông Stevie để trên tấm dra, tôi cầm lên để vào tay tôi, bàn tay giá lạnh. Do đó tôi mới nhận ra rằng nhiệt độ cao trong người tôi cũng có hậu quảphần nào. Tôi bật đèn bấm và vẫn cầm tay ông ta. Ánh sáng nhợt nhạt hắt vào phòng từ khoảng rừng trống càng lúc càng mờ, và khi tôi ngồi ở đây, mưa lại rả rích trên mái tôn, một lúc sau đã trở thành một điệu gõ đều đều.
Tôi sực nhớ ra, có vài điều tôi định hỏi ông Stevie mà tôi quên. Tôi vẫn ngồi đấy, trong bóng tối, tay vẫn cầm bàn tay giá lạnh của ông ta, cơn sốt làm tôi ngây ngất, không còn định tỉnh gì nữa, cố nhớ lại những điều cần làm mà không nhớ ra. Tiếng mưa râm ran trên mái càng làm cho đầu óc tôi lộn xộn, đờ đẫn, tôi như cảm thấy bị rớt vào một cơn mê sản và cố vùng vẫy để thoát ra. Tôi cần phải hỏi ông ta cái gì đây?
Và rồi câu trả lời đã đến, đó là câu hỏi về thân nhân của ông ta. Tôi đã quên không hỏi về vợ hay con cái hay thân nhân bà con của ông ta ở đâu đó, nếu trường hợp ông ấy lìa đời phải thông báo cho ai. Điều đáng ân hận là không ai ở Landsborough biết về đời tư của ông ấy. Ông Liên Chi cũng biết rất ít những quan hệ ấy. Còn riêng tôi, ngay cả tên ông ta, tôi cũng không biết rõ.
Tôi bóp mạnh bàn tay ông ta, băn khoăn là để sự việc xảy ra quá muộn
Bác Stevie, bác có hiểu lời tôi nói không? Tôi là Cha Roger đây. Hãy nói cho tôi biết, trước khi đi ngủ, tên của bác, họ của bác đầy đủ.
Tôi cảm thấy bàn tay tôi đang nắm có hơi động đậy, tuy đầu óc ngây ngây, tôi vẫn cố tập trung để nghe ông ấy trả lời
Anderson - ông ta thì thào - David Anderson. Nhưng các bạn thân thường gọi là Nigger.

š Email to friends   -    ?Write a review   -    <Save It
 «  view previous novel view next novel »
 People Also View
Tay Du Dien Nghia
Truyen Cuoi Dan Gian
Truyen Cuoi Dan Gian
Truong Cu
Mua Mua In The Wet
Dung Tran Cu
Tay Du Dien Nghia
Truyen Cuoi Dan Gian
Tinh Va Dien
Tao Loan
Truyen Tu Ke
Truyen Cuoi Dan Gian
Truyen Cuoi Dan Gian
Truyen Cuoi Dan Gian
Truyen Cuoi Dan Gian
Truyen Cuoi Dan Gian
Truyen Cuoi Dan Gian
Tim Tram
Tim Song
Truong Chi TVT
Vu Tru Cam
Mua Mua In The Wet
Mua Mua In The Wet
Toc Tien
Toc Tien
Truoc Vong Chung Ket
Tay Du Dien Nghia
Tay Du Dien Nghia
Tieng coi nha may
Choi Voi Thoi Gian
Truyen Tu Ke
Truyen Tu Ke
Truyen Tu Ke
Truyen Tu Ke
Truyen Cuoi Dan Gian
Truyen Cuoi Dan Gian
Truyen Cuoi Dan Gian
Truyen Cuoi Dan Gian
Truyen Cuoi Dan Gian
Truyen Cuoi Dan Gian
Truyen Cuoi Dan Gian
Truyen Cuoi Dan Gian
Truyen Cuoi Dan Gian
Chuyen Tau 16 Gio 50
Hong Viec
Cua Song
Tinh Ca Giao Vien Mien Nui
Tinh Ca Giao Vien Mien Nui
Ke hoach hoan hao
Tao Loan
Tao Loan
Chim phong sinh
Tay Du Dien Nghia
Tay Du Dien Nghia
Tay Du Dien Nghia
Cuọc Sóng Lang Thang Cua Anh Em Nhà Nhẹn
Huyen thoai bien
Choi Voi Thoi Gian
Truyen Tu Ke
Con doi trang khong lo
Truyen Cuoi Dan Gian
Truyen Cuoi Dan Gian
Truyen Cuoi Dan Gian
Truyen Cuoi Dan Gian
Truyen Cuoi Dan Gian
Truyen Cuoi Dan Gian
Truyen Cuoi Dan Gian
Truyen Cuoi Dan Gian
Truyen Cuoi Dan Gian
Truyen Cuoi Dan Gian

 

 
Copyright © 2006 - 2014. All right reserved      ::   Terms of Service   ::   Privacy Policy